Thứ Sáu, 30 tháng 7, 2010

Văn hóa & Đạo đức Karate-do

(Võ sư Hồ Hòang Khánh , Valadimir Pronikov & Ivan Ladanov) *** Một nắm đấm hay một cú đá của một võ sinh Không Thủ Đạo ( Karate-ka ) khi tung ra có một sức tàn phá rất tàn khốc và dễ dàng gây thương vong cho đối phương . Thầy Gichin Funakoshi đã nói : " Trong Karate không có kỹ thuật tấn công " . Vì vậy nguyên tắc chính trong việc hướng dẫn văn hóa đạo đức của Không Thủ Đạo là không cho phép một người biết Không Thủ Đạo gây thương tích hoặc tấn công đối phương trước , trừ khi bị tấn công trước hay bị dồn vào chỗ bế tắc . Tuy nhiên chiều hướng giải quyết chính trong những trường hợp này vẫn chỉ là hóa giải và luôn luôn trong tư thế tự vệ . Không Thủ Đạo không đơn thuần chỉ là những kỹ thuật đấm đá mà nó bao gồm cả quá trình tu tập tinh thần song song với rèn luyện thể xác đã được nung đúc trên nền tảng là triết lý nhà Phật ( Bukyo ) , Thần Đạo ( Shinto ) và Võ Đạo ( Budo ) . Trong đó tâm thế đạo đức Phật giáo là yếu tố tinh thần , còn Thần Đạo và Võ Đạo là yếu tố hành vi ứng xử trong cuộc sống xã hội . Chữ Do của Karate-do có nghĩa ở đây là Đạo - là con đường dẫn dắt chúng ta đến chân lý để hiểu thế nào là Chân Thiện Mỹ cũng như để giúp việc tu tập chất và tinh thần được hòa hợp . Các võ sư Karate thường khuyên các đệ tử phải tu luyện sao cho có thể hội nhập được tinh thần và thể chất thành một khối thống nhất , không thể tách rời nhau . Mô hình ứng xử lý tưởng , theo các võ sư , phải là : " Bắt ý thức phải lệ thuộc vào thể chất ; còn thể chất phải tuân thủ sự chi phối của ý thức mình " . Một thành tố quan trọng của mô hình đó là phải tuân thủ những đức lệ mà mọi võ sinh phải rèn luyện thật dày công trong suốt cả cuộc đời hoặc trong từng chặng , mới hy vọng trở thành một võ sĩ cao thủ .Có nhiều phương pháp để rèn luyện , một trong những phương thức hữu hiệu nhất là chiêm nghiệm bản thân và cuộc sống qua các câu danh ngôn như : - Không khắt khe , ta khó lòng sống sót . Không mềm mỏng , ta sẽ chẳng đáng sống ở đời . - Vết thương bằng gươm giáo có thể lên da non , nhưng vết thương do sự hạ nhục gây ra , thì chẳng bao giờ thành sẹo . - Người biết lượng thứ không phải là người ngu ngốc . Kẻ ngu ngốc thường là những kẻ chẳng hề biết tha thứ bao giờ . - Kẻ nào dám cắn vào tay người vừa cho hắn ăn , kẻ đó tất sẽ liếm ngay đế giày đứa vừa chà đạp hắn . - Đời ta là một cánh hoa . Ai mà biết lúc nào thì rã cánh ? HOÀNG NGỌC HÙNG # 28. February 2007, 13:09

Các Hệ Phái KARATE

Shotokan, lối đánh thấp đầy uy quyền: Môn shotokan tự nó đã rất khác so với các môn khác bởi vị trí chiến đấu thấp và biên độ lớn trong kỹ thuật. Những vị trí chiến đấu thấp tạo ra lợi thế làm tăng phần cơ dưới. Shotokan đòi hỏi động tác phải mạnh, không chỉ bởi tính ổn định của vị trí chiến đấu mà còn ở phần hông vững vàng. Trong khi di chuyển, phần hông luôn luôn phải giữ ngang tầm. Shotokan là môn chiến đấu thấp, đầy lực và nhịp nhàng, chậm và nhanh đan xen nhau. Điều này rất quan trọng và cũng là quy luật khắc nghiệt trong chuyển động tay chân. Ví dụ như trong khi di chuyển hay ở những kỹ thuật chân, hông phải luôn giữ ở một vị trí cố định. Đặc biệt nhịp thở không được phát ra mạnh khi thót bụng. Những bước nhảy cũng đòi hỏi tính kỹ thuật một cách nghiêm khắc chứ không đơn thuần mang tính chất thể dục trong môn shotokan. Wado-ryu, sự kết hợp giữa Karaté và Ju-jutsu: Môn wado-ryu trước hết là một môn rất có kỹ thuật, một lối chiến đấu luôn luôn thay đổi và hoàn toàn khó nắm bắt trong đó tính uyển chuyển là một khái niệm hết sức quan trọng. Có 3 nguyên tắc trong trường phái Wado-ryu: Noru (phối hợp trong tấn công và phòng thủ ở cùng một động tác), Nagasu (hít thở) và Inasu (làm trệch hướng). Một khía cạnh nữa cũng không kém phần quan trọng là tính kiềm chế và giữ khoảng cách với đối thủ. Nguyên tắc này về cơ bản mang tính quyết định rất cao. Thực ra, bản chất của Karaté Wado ryu đã tự thu tóm trong một tổng thể mở của tinh thần và lòng dũng cảm. Shoto ryu, môn võ của nghệ thuật kata: Các đặc điểm kỹ thuật của shoto ryu phỏng theo Shuri-Té và Nahaté. Phong cách được đánh dấu bằng sự tinh tế (nhận thức sự tấn công) và độ nhanh nhậy (hay còn gọi là tốc độ chuyển động và nắm bắt cuộc chiến). Những kỹ thuật dựa trên tính linh hoạt của vùng hông và những chuyển động nhịp nhàng của cơ thể. Môn shoto-ryu đòi hỏi cơ thể phải ở vị trí tự nhiên, tay ở tư thế mở. Ở shoto-ryu ngườI ta cũng tìm thấy tính liên kết về lực, một trạng thái cân bằng làm hài hòa cơ thể và duy trì sức khỏe. Bởi vậy shoto-ryu cũng là một trường phái thi đấu dẻo dai và đầy chất uyển chuyển. Goju-ryu, kết hợp giữa sức mạnh và tính mềm mại: Môn Goju ryu dựa trên những khái niệm uyển chuyển và là sự kết hợp giữa hai thuật ngữ "Go" (cương: cứng rắn) và "Ju"(nhu: mềm mại). Cả hai khái niệm này đều có tầm quan trọng và tính quyết định cao ngang bằng nhau để tạo nên môn Goju ryu. Khoảng cách cần thiết trong trường phái này cho phép người ta có thể thực hiện một cách có hiệu lực những cú chặt đòn, những cú khóa đòn và phóng những đòn bằng tay một cách có hiệu quả hơn. Ngoài ra, ở hệ phái Goju ryu, toàn bộ cơ thể như một động cơ chuyển động, lực tập trung nhiều ở cơ bụng. Do vậy những cú đạp và đá tập trung sức mạnh ghê gớm. Cũng giống như những hệ phái truyền thống khác của Okinawa, kỹ thuật bằng tay cũng có một vị trí quan trọng. Goju ryu là một phương pháp tự vệ tuyệt vời cũng như tôi luyện sức khỏe, và lòng tự tin là nền tảng cơ bản của hệ phái. NHỮNG KỸ THUẬT CĂN BẢN CỦA KARATEDO. Tấn pháp:Tachiwara Mỗi một võ sinh karate muốn đạt được trình độ chuyên môn cao, điều căn bản kỹ thuật trước nhất là tấn pháp. Tấn pháp quan trọng và cần thiết đối với võ sinh cũng như nền móng vững chắc cho một tòa nhà cao tầng. Bộ tấn Karate bao gồm 19 tấn khác nhau. Mỗi một tấn có khỏang cách khác nhau, hướng của mũi bàn chân, dạng của hai bàn chân, dạng của hai bàn chân đứng trụ tấn. Tất cả đều nhất nhất tuân thủ theo nguyên tắc khoa học, sự tính toán khoa học, giữa trọng tâm con người và khỏang hai chân trọng lượng chịu đựng trên mũi bàn chân. Mỗi một tấn áp dụng thích nghi cho các đòn kĩ thuật làm tăng thêm sức mạnh của đòn thế bằng khỏang cách tấn công và phản công. Mỗi tấn được ổn định là làm cho trọng tâm con người luôn luôn được thăng bằng, trong di chuyển, cũng như cố định. Hoạt động di chuyển của một tấn là sự chuyển động từ phần thắt lưng trở xuống. Và chúng ta ví con người như đang cầm một bát nước đầy ngang thắt lưng, muốn nước khỏi tràn ra ngoài, chúng ta phải di chuyển trên mặt phẳng nằm ngang. Trọng tâm con người ở Đan Điền nơi tập trung sức mạnh về thể lực cũng như ý lực, chúng ta cố gắng giữ thăng bằng khi di chuyển tấn cũng như biến tấn: là không trồi lên sụt xuống. Khi di chuyển phối các tấn các kỹ thuật khác nhau, chúng ta phải phối hợp 2 tiêu chuẩn: thăng bằng và lanh lẹ. Có như vậy chúng ta mới đạt hiệu quả tấn pháp. Thân pháp: (Tai Kawasi) Thân pháp Karate nền tảng căn bản ứng dụng kỹ thuật nhuần nhuyễn trong tập luyện giữa tấn pháp và kỹ thuật. Thân pháp rất hữu ích khi thi đấu. Thân pháp là sự phối hợp nhịp nhàng giữa tấn kỹ thuật trong khi tiến (Susumikata), lùi (Motorikata), bước chéo (Ayumi Ashi), bước lướt (Tsugi Ashi), duỗi chân (Okuri Ashi) hoặc vừa bước vừa lướt hoặc quay sau (Ushino Tai Kawasi). Khi tập luyện phối hợp thân pháp chúng ta luôn luôn: - Giữ thăng bằng con người. - Chuyển động thân hình nhẹ nhàng mền mại. - Luôn luôn giữ đúng tư thế tấn. - Không được nhấc chân khỏi mặt đất cũng như không được chà sát mạnh vào mặt đất. - Từ vùng thắt lưng trở xuống chuyển động di chuyển toàn bộ con người không trồi lên thụt xuống, chúng ta luôn luôn di chuyển trên mặt phẳng nằm ngang. Kỹ thuật Karate: Karate là một bộ môn có chương trình huấn luyện kỹ thuật rất phong phú và đa dạng, mỗi một phần của bàn tay, cánh tay, cùi chỏ, đầu gối và chân đều là một vũ khí sắc bén. Mỗi một kỹ thuật Karate đều mang tính khoa học trong tấn công cũng như đỡ đòn. Tùy theo khong cách, vị trí, hình dạng của đối thủ các đòn thế Karate sẽ được sử dụng tương ứng với hiệu quả năng lực đòn thế cao nhất dù ở góc độ khó nhất. Hiệu năng đòn thế của cánh tay (từ cùi chỏ đến 5 đầu ngón tay) và chân (từ đầu gối đến 5 đầu ngón chân) được võ sinh Karate phát huy tối đa khi tấn đỡ đòn và phản công. Cho dù sử dụng đòn thế nào đi chăng nữa mỗi một võ sinh Karate muốn đạt căn bản chuyên môn phải đạt trình độ kỹ thuật Karate mà tất cả các kỹ thuật Karate đều dựa trên các nguyên lý khoa học về vật lý và tâm lý. Về nguyên lý vật lý: 1. Tận dụng sức mạnh tối đa: Muốn tăng tối đa sức mạnh đòn thế phải dựa trên các yếu tố sau: - Sức mạnh tỷ lệ thuận với độ co dãn bắp thịt. - Độ công phá của một sức mạnh tỷ lệ nghịch với thời gian tác dụng. - Trong các kỹ thuật dùng cách lật tay (đỡ và chặt) dùng cách xoay hay xoắn (trong các cú đấm) xoay vặn hông (trong các cú đá) để tạo vận tốc ban đầu. 2. Về tập trung sức mạnh Các kỹ thuật Karate tập trung sức mạnh để tăng hiệu năng kỹ thuật cần phải đúng lúc và đúng chỗ. - Dùng mặt phẳng tiết diện nhỏ tiếp xúc thì cú đánh tác dụng càng mạnh càng uy lực. - Vận dụng nhiều bắp thịt thì sức mạnh càng lớn. - Muốn tập trung tối đa sức mạnh trong cơ thể phải tập trung vận dụng các bắp thịt đồng chiều đỡ, sử dụng hiệu nghiệm sự hợp lực của các sức cho các bắp thịt khác nhau tác dụng. - Vận dụng sức mạnh tối đa theo trình tự vận chuyển cơ bắp như bắp thịt ở bụng và ở hông rồi đến tay chân. - Dùng phản học để ổn định hỗ trợ và tăng sức mạnh đòn thế khi phát ra. 3. Về hơi thở: Điều hoà hơi thở đúng lúc sẽ tăng sức mạnh đòn thế và tránh gây nguy hiểm cho bản thân. Đối với bộ môn Karate nhiều người quan niệm đó là một môn võ chuyên dùng tay không, với quan niệm này người ta chưa hiểu rõ nghĩa chữ Karate và tất cả các kỹ thuật của bộ môn. Trên cơ thể con người được chia thành 3 vùng rõ nét: vùng cao, giữa và thấp. Các kỹ thuật Karate đều áp dụng cho 3 vùng đó trong đó có đòn chân. Riêng đòn chân Karate cũng phong phú đa dạng không kém gì đòn tay kể cả trong tư thế nằm, tuỳ theo khong cách và vị trí dạng hình của đối thủ mà võ sinh Karate sẽ vận dụng đòn thế kỹ thuật tay hay chân để thích ứng đem lại hiệu quả năng lực đòn thế cao nhất. Nguyên lý tâm lý: Sức mạnh kỹ thuật không phải là yếu tố quyết định mà nó còn phải phụ thuộc vào yếu tố tâm lý. Nếu một võ sinh Karate đạt được những yếu tố nguyên lý này thì sẽ đem lại thành công trong thi đấu cũng như đời sống. - Tâm bình - Trí sáng - Sự hợp nhất giữa tâm trí và ý trí. Đây là một sức mạnh vô biên, trong con người ngoài sức mạnh thể chất còn có sức mạnh bên trong của tinh thần. Nếu ta vận dụng được hài hoà cả hai yếu tố khi tập luyện, chắc chắn ta sẽ thành công trên nhiều mọi lãnh vực võ thuật và trong sinh hoạt đời sống hàng ngày. Theo TÀI LIỆU VÕ HỌC

Thứ Hai, 21 tháng 9, 2009

Sensei Ho Hoang Khanh - 2009

 HUẤN LUYỆN VIÊN TRƯỞNG YAMADAKAI
VS HỒ HOÀNG KHÁNH             

                                                      2012


Thứ Ba, 17 tháng 3, 2009

Grand Master Shorin-ryu

Chibana Chosin Hanshi " Ngày xưa chúng tôi luyện tập Karate thật sự là một loại võ thuật, bây giờ người ta luyện tập Karate như là một loại thể thao. Tôi nghĩ chúng ta không nên xem Karate như là một loại thể thao, nó phải được xem là một loại võ thuật thật sự bất cứ lúc nào! Những ngón tay và đầu ngón chân của bạn giống như những mũi tên, cánh tay cứng như những thanh sắt. Bạn phải nghĩ rằng nếu bạn tung một cú đá hay phát ra một quả đấm rồi tung đòn đấm và đá liên tục vào đối phương phải gây cho đối phương thiệt hại nặng. Muốn có tinh thần này bạn phải khổ luyện mới đạt được kết quả như ý muốn." -Chibana Choshin là người sáng lập ra trường phái Shorin-ryu Okinawa, ông sinh ngày 5-6-1885 tại Tottori-Cho thuộc thành phố Shuri của Okinawa, năm 1900 ông bắt đầu luyện tập võ thuật với Yasutsune "Anko" Itosu, và năm 15 tuổi ông bỏ trung học và tiếp tục theo đuổi luyện tập võ thuật dưới sự hướng dẫn tận tình của thầy Anko Itosu. 5 năm sau cái chết của thầy Anko, ông bắt đầu huấn luyện và giãng dạy theo đường lối kỹ thuật riêng của mình và khai sáng trường phái shorin-ryu, khóa huấn luyện đầu tiên của ông khai giảng tại Tottori-Bori sau đó ông mở khóa huấn luyện thứ hai tọa lạc tại Kumo-cho thuộc Naha. Trong thời gian đệ nhị thế chiến ông đã thoát chết khi thành phố Shuri của Okinawa hầu như bị thiêu hủy bởi người Mỹ, và sau đó ông dạy lại Shorin-ryu tại Giho-cho nơi nấy là một phần đất nhỏ thuộc thành phố Shuri. Từ tháng 2 -1954 tới tháng 12-1958 ông là huấn luyện viên trưởng của bộ cảnh sát của thành phố Shuri. Tháng 5-1956 hội Karate-do Okinawa được thành lập và ông là người đầu tiên được đề cử làm chủ tịch hội nầy. Ông tiếp tục giãng dạy và phát triển Shorin-ryu không chỉ tại Okinawa mà còn quãng bá vào Nhật Bổn. Năm 1957 ông được hội võ thuật Nhật Bổn Dai Nippon Botokukai phong chức Hanshi (10 đẳng). Năm 1960 ông được giải thưởng thể thao đầu tiên do tờ thời báo Okinawa trao tặng vì đã có công nghiên cứu và giảng dạy võ thuật truyền thống Karate-do Okinawa. Năm 1964, Chibana Choshin thông báo cho mọi người biết ông bị ung thư cuống họng ở giai đoạn cuối tuy nhiên vì nghệ thuật và truyền thống Okinawa Shorin-ryu nên ông tiếp tục giảng dạy mặc dù cơ thế của ông lúc nầy rất yếu. Năm 1966 ông được đưa tới trung tâm nghiên cứu ung thư Tokyo để chận đứng sự phát triển chứng bệnh của ông, và sau đó lại một lần nữa ông dạy lại Shorin-ryu cũng với người cháu là Akira Nakazato. Ngày 29-4-1968 ông danh dự được nhận huy chương thiêng liêng cao quý Kunyonto do Nhật Hoàng trao tặng vì đã dân hiến cuộc đời cho sự nghiên cứu và quãng bá võ thuật Karate Okinawa. Cuối năm 1968 điều kiện cơ thể của ông trở nên quá yếu và được đưa vào bệnh viện Ohama tại đây mặc dù với sự cố gắng cứu chữa của các bác sĩ nhưng định mệnh đã an bày ông đã qua đời vào lúc 6:40 sáng hưởng thọ 83 tuổi.
                                                                      Renshi Hồ Hoàng Khánh
                                                               Chief instructor Karate Yamadakai 

Thứ Ba, 24 tháng 2, 2009

"NGƯỜI MÈO" GOGEN YAMAGUCHI, BẬC KỲ NHÂN CỦA VÕ THUẬT




Gogen Yamaguchi sinh năm 1907 tại Kyusyu thuộc hạt Miyataki Ken, thuộc dòng dõi samurai chính tông. Từ nhỏ, ông đã làm quen và luyên tập nhiều môn võ, đặc biệt là Nhu đạo. Năm 20 tuổi, ông theo gia đình về sống ở Kyoto và tại đây, ông bắt đầu làm quen với môn võ Karate Goju của võ sư Chojun Miyagi, người gốc Okinawa. Ông đã đạt tới trình độ đệ ngũ đẳng Nhu đạo. Về văn hoá, ông theo hoc ngành luật và ngành y. Ông đã đậu tiến sĩ y khoa ngành cốt học, và thạc sĩ triết học Đông Phương. Ông còn say mê đạo học và là một tu sĩ Thần Đạo nổi tiếng. Ông luôn truyền bá phép quán tưởng, để tóc dài và ăn chay trường. Dáng người thấp lùn, nặng 70 ký nhưng chỉ cao có 1,53 mét, ông không ngừng gây kinh ngạc cho những kẻ diện kiến- nhất là người phương Tây- về năng lực phi thường và võ công ngoại hạng của mình. Sinh hoạt đời thường của ông đã đủ biểu thị sức chịu đựng vô biên của một cơ thể sắt thép: luôn thực hiện đầy đủ bổn phận của một tu sĩ Thần học trong sứ mạng truyền bá phép quán tưởng, đồng thời ông tiếp tục lãnh đạo rất thành công một “đế quốc” võ thuật có quy mô toàn cầu là tổ chức Karate. Hàng ngày ông theo dõi, đôn dốc hơn 12 ngàn võ đường và hội quán Karate Goju cả về mặt chuyên môn lẫn kinh tài. Ở địa vị tối cao trong “đế quốc” võ thuật của riêng mình, ông vẫn sát cánh bên các môn sinh trong các buổi tập quan trọng. Tốc độ ra đòn của ông nhanh khó thể tưởng tượng: ông có thể thi triển thế đá bay với 3 hay 4 cú một lần vào bụng, ngực và đầu đối thủ. Tập luyện ngoài trời giữa mùa đông giá, ông vẫn chỉ mặc một bộ võ phục mỏng, đi chân đất, hướng dẫn các môn sinh leo lên các triền núi. CUỘC TAO NGỘ VỚI MÔN PHÁI KARATE GOJU Yamaguchi nghe nói đến môn phái Karate Goju và người lãnh đạo nó, võ sư Chojun Miyagi lần đầu tiên khi ông đang theo học tai học đường Ritsumeikan. Hồi đó, Miyagi đang ở tại thành phố Naha, trên đảo Okinawa có khuynh hướng đi theo một con đường biệt lập, và hầu hết các chi lưu chính đều tập trung ở thành phố Shiru, sở trường của họ là các đòn cương. Võ sư Miyagi chủ trương đòn nhu cũng quan trọng như đòn cương. Do đó, chi phái Karate của ông ở Naha được mệnh danh là Karate Goju, tức là môn Không thủ đạo cương nhu (go: cương, ju: nhu). Nhận lời mời của Yamaguchi, võ sư Miyagi rời Okinawa sang Nhật. Nhờ gặp trực tiếp võ sư Miyagi, Yamaguchi hiểu rõ được tôn chí của môn phái Karate Goju. Phái này đặt nền tảng trên quan niệm triết học Đông phương, theo đó, mọi sự nếu cứng quá, hoặc mềm quá đều không tốt. Quan trọng là hai yếu tố cứng, mềm phải bổ sung cho nhau. Việc tổng hợp hai yếu tố cương,nhu trong võ thuật đã mang lại cho môn phái Karate Goju những đòn đánh uyển chuyển, nhịp nhàng và bay bướm. Nhưng nếu ai đó e rằng hoa mỹ quá sẽ không kiến hiệu thì người đó chỉ cần nhìn hai môn sinh Karate Goju tự đo đối luyện sẽ “tỉnh ra” ngay. Người ấy sẽ thấy Karate Goju có những đòn nhanh như chớp. Cuộc đấu giaữ họ ít có thời gian chết, ít có những cảnh đứng yên chờ đối thủ sơ hở. Họ đều chủ động tấn công, tung ra những đòn “cương mãnh” mà thanh thoát. Võ sư Miyagi không chỉ “thuyết” suông mà đích thân ông còn biểu diễn các bài quyền vừa phức tạp, vừa lạ lùng. Buổi sơ kiến đã chinh phục hoàn toàn Yamaguchi, và cuộc đời ông đã qua một ngã rẽ quyết định. Yamaguchi dốc toàn tâm lực tập luyện môn Karate Goju. Ngày võ sư Miyagi rời Nhật Bản về Okinawa, ông hoàn toàn hãnh diện về người môn đệ của mình. Ông thăng đẳng cấp cao nhất của môn phái cho Yamaguchi, và uỷ thác cho người môn đệ sứ mang cao cả là lãnh đạo chi phái võ thuật này tại nước Nhật. Chia tay thầy xong, Yamaguchi bắt tay ngay vào việc truyền bá môn võ Karate Goju trên toàn nước Nhật. Trước tiên, ông lập hội Karate Goju ở trường đại học Ritsumeikan, rồi mở võ đường Karate đầu tiên tại miền Tây nước Nhật vào năm 1930. Sức làm việc không mệt mỏi của ông đã giúp môn phái thu hút được nhiều môn sinh và bắt đầu lan tràn khắp xứ. Ông nhận thấy môn Karate gốc Okinawa nói chung và môn Karate Goju của võ sư Miyagi nói riêng, với nguồn gốc võ cổ truyền Trung Quốc, vẫn còn bị gò bó quá nhiều và tĩnh quá. Ông thực thi việc mở rộng các động tác để võ sinh có thể ra đòn nhanh và tự do, thoải mái hơn. Những bước cải thiện này đã đưa môn Karate Goju tiến được một bước dài chỉ qua một thời gian vài năm. Cuộc Đệ nhị Thế chiến bùng nổ đã cắt ngang tất cả. Như mọi công dân khác, Yamaguchi tuân lệnh chính phủ lên đường sang công tác tại Mãn Châu vào năm 1939. Chính trong thời kỳ chiến tranh này, ông đã tạo nên một kỳ tích võ thuật giúp đưa tên tuổi ông vào cõi bất tử: tay không giết cọp dữ. CUỘC TỬ CHIẾN TRONG NHÀ TÙ. Lúc đó nhằm giai đoạn bùng nổ cuộc Đệ nhị Thế chiến. Tại một nhà tù ở Mãn Châu, có một tù nhân ngoài 30 tuổi, thân hình thấp lùn. Ông ta không ngồi bất động, buồn thảm như các tù nhân khác, cũng không thích giao thiệp với ai. Ông chuyên chú duy nhất vào việc tập luyện Karate mỗi ngày. Tập xong, ông ngồi thiền, gần như đắm mình trong trạng thái xuất thần. Bọn cai tù bắt đầu chú ý đến ông. Dù ông rất gương mẫu trong việc chấp hành nội quy, bọn cai ngục vẫn cảm thấy “kỵ” ông. Họ nhắc nhở nhau coi chừng ông, thậm chí có kẻ còn gọi ông là “tên phù thuỷ”. Sau đó ít lâu, bọn chức sắt trại giam đã khám phá ra nguồn gốc của ông. Chúng biết ông là người của sở cảnh sát Tokyo phái qua Mãn Châu thi hành một công tác đặc biệt. Tại sở cảnh sát Tokyo, ông giữ một chức vụ hết sức kỳ lạ là “phát hiện lời nói dối”. Họ còn biết thêm ông là một võ sư Karate. Công việc ở Sở cảnh sát của ông là dự nghe những cuộc hỏi cung các kẻ bị tình nghi. Trong lúc các người này trả lời, ông quan sát mọi biểu hiện của họ qua lời nói, giọng nói, cử chỉ, nét mặt, sau đó cân nhắc để nhận định kẻ đó thành thật hay gian dối. Trong nhiều năm công tác, ông chưa bao giờ phạm sai lầm, nên ý kiến của ông rất được coi trọng. Vào lúc Đệ nhị thế chiến bùng nổ, chính phủ cử ông sang Mãn Châu để thi hành một sứ mang đặc biệt, nhưng vừa đặt chân xuống đất Mãn là ông bị bắt ngay. Biết rõ lý lịch của ông rồi, đám cai ngục thôi gọi ông là “tên phù thuỷ” mà gọi bằng tên thật: Gogen Yamaguchi. Biết rõ thân thế của ông, bọn cai ngục vẫn sợ ông và càng thêm thù ghét. Tâm lý chung của người Mãn Châu lúc đó là thích nhục mạ người Nhật. Biết Yamaguchi là võ sư Karate, các cai ngục người Mãn tìm cách thử thách ông để có dịp miệt thị môn võ đó. Chúng biệt giam ông trong xàlim kín mít, giảm tối đa khẩu phần ăn. Thêm vào đó, chúng thay phiên nhau tra tấn, đánh dập ông. Chúng quyết tâm đốn ngã ông để có thể tuyên bố rằng môn Karate thực ra chỉ là thứ rác rưởi như chính Nhật Bản là thứ người rác rưởi vậy. Kết quả hoàn toàn ngược lại. Bị ngược đãi đến mức thô bạo nhất, Yamaguchi vẫn sinh hoạt bình thường. Mọi thử thách hầu như không có tác dụng gì đến ông. Túng thế không biết làm sao, bọn cai ngục nghĩ ra một thử thách khác và cũng là thử thách cuối cùng cho Yamaguchi trong cuộc đời tù ngục. Các cai tù chọn một con cọp hung dữ nhất trong số cọp họ nuôi, nhốt nó vào chuồng và bỏ đói 3 ngày liền. Ngày thứ 4, chúng lột truồng Yamaguchi và ném ông vào chuồng cọp. Chúng vững tin con người tầm vóc cao có 1,53 mét bị bỏ đói lâu ngày đó sẽ là miếng mồi ngon cho loài ác thú. Chúng chờ đợi phút chứng kiến vẻ kinh hoàng tột độ của ông khi giáp mặt ác thú, để có dịp bôi bác về thói hèn nhát của một cao thủ Karate Nhật Bản. Kế hoạch này đã được tiến hành đúng theo từng chi tiết. Tất cả những tù nhân được tận mắt chứng kiến cuộc thử thách có một không hai này đều thuật lại câu chuyên mà chưa hết kinh hoàng. Nhưng điều duy nhất họ đồng ý với nhau là vị chưởng môn Karate Goju này khi bị lột truồng ném vào chuồng cọp vẫn không hề tỏ một thái độ khiếp sợ nào. Trái lại, ngay từ giây đầu tiên, ông hệt như một kẻ bị quỷ ám. Hét lên một tiếng kinh hồn, ông lao ngay vào tấn công con cọp. Mọi người chưa kịp nhìn rõ ông bị ném vào chuồng cọp thế nào thì chân ông đã tung một ngọn cước vào mũi con thú. Con vật lạng quạng vì trúng đòn, chưa kịp phản ứng thì đã lãnh thêm một đòn cùi chỏ trí mạng vào mang tai, khuỵu hẳn xuống. Không cho ác thú kịp gượng dậy,Yamaguchi phóng thẳng lên lưng nó và tung một đòn siết cổ. Các bắp thịt trên toàn thân ông co siết lại trong khi ông hét lên một tiếng vang rền. Tiếng thét và đòn siết cổ đã kết liễu tính mạng con ác thú. Trân đấu diễn ra trong sự kinh hoàng tột độ của đám tù nhân và đám cai ngục. Những kẻ chứng kiến từ đầu đến lúc đó có cảm giác họ vừa trãi qua một cõi vĩnh hằng, trong thực tế, mọi việc diễn ra đúng 20 giây đồng hồ, tức là chưa tới "30 giây", như kiểu chúng ta thường nói! Hết thảy mọi người đều thở ra nhẹ nhõm như chính bản thân họ vừa tai qua nạn khỏi khi Yamaguchi buông tay đứng dậy, lặng nhìn con thú nằm bất động dưới chân ông. Không ai có thể đoán nổi ý nghĩ của Yamaguchi lúc đó, nhưng ngoài mặt ông vẫn không có gì khác hơn ngày thường: thư thái từ đầu đến chân với vẻ mặt trầm tư cố hữu. Thử thách này đã thay đổi hoàn toàn thái độ của mọi người, kể cả những tên cai ngục căm ghét Yamaguchi nhất. "NGƯỜI MÈO" DANH BẤT HƯ TRUYỀN. Năm 1947, Yamaguchi được phóng thích khỏi nhà tù Mãn Châu và lên đường về nước. Thời gian tù đày 8 năm là dịp cho ông thu thập được nhiều nét tinh hoa của võ học cổ truyền Trung Hoa. Trở về tổ quốc trong một nước Nhật bại trận, Yamaguchi đau đớn chứng kiến cảnh võ thuật bị lực lượng Đồng minh chiếm đóng đặt ra ngoài vòng pháp luật. May thay, lệnh trên lại không “đụng” đến môn võ Karate, vì người kí lệnh nhầm tưởng Karate là một vũ điệu thuần tuý Đông phương! Sự hiểu lầm này đã đem lại cho Yamaguchi một vận may hiếm có, nhưng đồng thời cũng bắt ông phải bắt tay ngay vào việc. Ông lập tức khai thác dịp may và lao ngay vào công tác bị bỏ dở vì chiến tranh, để tiếp tục sứ mạng mà sư phụ Miyagi đã uỷ thác. Theo nhận định của ông, những truyền thống của dân tộc bao giờ cũng có sức mạnh lớn lao. Từ suy nghĩ này, ông quyết định đặt công tác phát triễn võ thuật trong khuôn khổ của nổ lực phục hồi các phong thái cổ truyền, đã tạo nên hình ảnh hào hùng của người Nhật. Ông thể hiện nghiêm khắc các nếp sống dân tộc trong mọi tương quan, đồng thời để tóc dài theo cung cách tu sĩ Thần đạo và giới samurai. Bề ngoài có vẻ cổ quái của ông cộng với lòng nhiệt thành đã lôi cuốn mọi người quanh ông trở về với niềm tự hào dân tộc. Phong trào đua đòi cách sống phương Tây mất dần sức quyến rũ, và chẳng bao lâu, chính những người ngoại quốc sống ở Nhật lại bị nếp sống Nhật chinh phục. Nhiều binh sĩ ngoại quốc trong quân đội chiếm đóng tìm đến võ đường Goju Kai ở Tokyo xin theo học và sau đó, họ đã trở thành các sứ giả truyền bá môn Karate Goju đi khắp thế giới. Tại Nhật, người ta thường nghe nhắc đến một biệt danh của ông là “Người Mèo” Không thủ đạo. Không ai biết rõ xuất xứ của biệt danh này mà chỉ phỏng đoán là do các quân nhân Mỹ chiếm đóng tại Nhật đặt cho ông. Những toán lính Mỹ đã nhiều lần kinh hoàng khi ông đột ngột xuất hiện ngay sau lưng họ mà họ không hề hay biết, vì ông đi đứng nhẹ nhàng như một con mèo. Cũng có kẻ lập luận rằng biệt danh ”Người Mèo”(Cat Man) rất thích hợp để diễn tả những động tác mềm dẻo, uyển chuyển của môn phái Karate Goju mà Yamaguchi là trưởng môn. Dù xuất phát từ nguồn gốc nào đi nữa, thì cái biệt danh đó xem ra đã chọn đúng đối tượng. Người Mèo Yamaguchi không phải chỉ được biết đến qua hình ảnh mái tóc dài buông xoã và đôi mắt đen rực sáng, ông còn là hiện thân của một sức mạnh truyền kỳ, của nghị lực và lòng đam mê. Và chính từ hai điều này, nên chỉ với khối óc và hai bàn tay trắng, ông đã tạo nên một đế quốc võ thuật hùng mạnh giữa thế kỷ này trong một thời gian ngắn. Ngoài ra, một yếu tố không thể thiếu, giúp đưa ông tới thành công chính là sự kính mến của các môn sinh đối với người bạn đời của ông: bà Yamaguchi. Trong mọi nghịch cảnh, bà luôn trầm lặng, bình tĩnh, không hề than oán. Bà luôn khuyến khích các môn sinh của chồng khi họ có dấu hiêu nản chí. Hầu như tất cả các môn sinh vì quý trọng bà đã tìm cách giữ vững sự sống của môn phái. Đức hạnh và lòng thanh cao của bà đã khiến họ mến mộ bà có phần trội hơn đối với thầy của họ nữa. Thật đúng như một bậc danh nhân đã nói:”Đằng sau sự thành đạt của một vĩ nhân luôn có bóng dáng của một người phụ nữ”.

Vs. Mas. Oyama Người mạnh nhất thế kỷ 20 (Kyokushinkai)

Võ sư Oyama Masutatsu (Đại Sơn Bội Đạt) sinh ngày 27-7-1923 và mất ngày 26-4-1994. Ông nhập môn Karate- ShorinRyu vào năm 1938, học với Funakoshi Yoshitaka (người con trai thứ ba của võ sư Funakoshi Gichin) và được nhị đẳng chỉ sau hai năm tập luyện. Sau đó, Oyama tập Karate Goju – ryu từ võ sư So Neichu người Triều Tiên (So Neichu từng là vô địch Quyền Anh của 6 trường Đại học vùng Kansai, Nhật Bản) và nhận tứ đẳng. Sau khi chiến tranh thế giới lần thứ II kết thúc. Ước mộng trở thành sĩ quan lục quân của Oyama tan vỡ, ông sống những ngày tháng giang hồ và thường xuyên gây gổ với lính Mỹ đồn trú trên đất Nhật. Nhưng có một quyển sách Oyama đọc được khi còn là học sinh, truyện kể về kiếm sĩ nổi tiếng của Nhật Bản là “Miyamoto Musashi” đã chuyển hướng Oyama đi theo con đường khác, con đường của sự hoàn thiện. Oyama quyết định sống trọn đời với Karate. Hình ảnh Năm 1946, Oyama vào núi Minobu tại Yamanashi tu luyện Karate. Năm 1947, Oyama đoạt chức vô địch Karate toàn Nhật Bản do Enshin-Kai tổ chức tại Hội đường Maruyamam Kyoto. Năm 1948, Oyama lại ẩn cư và tu luyện Karte lần thứ 2 tại núi Kiyosumi huyện Chiba. Năm 1950, Oyama hạ sơn và tử chiến với bò mộng tại thành phố Tateyama huyện Chiba. Bắt đầu từ đây, Mas Oyama trở nên nổi tiếng. Ông biễu diễn Karate tại nhiều nơi trên thế giới, hạ được 47 con bò mộng bằng tay không (4 con chết tại chỗ). Nhận lời thách đấu 7 trận và toàn thắng tại Mỹ năm 1952. Được công chúng Mỹ đặt danh hiệu “God Hand” (Thần Thủ) vào năm 1955, khi ông biểu diễn đòn Shuto chặt bay cổ chai rượu Whisky. Tháng 1-1964, các võ sư Muay Thai thách đấu với Karate Nhật Bản, giới Karate Nhật Bản từ chối vì cho là “tà đạo” nhưng Oyama nhận lời cùng với ba môn đệ là Kurozaki, Nakamura, Ozawa sang Bangkok giao đấu với Muay Thai. Thắng 2 trong 3 trận, giữ uy tín cho Karate Nhật Bản. Và còn rất nhiều chiến tích về ông, con người của huyền thoại… Ở một khía cạnh khác, Mas Oyama là một võ sư Karate có khả năng sáng tác rất mạnh mẽ. Kể từ sau tác phẩm “What is Karate?” xuất bản tại Nhật tháng 1-1958, và tạo nên kỷ lục sách bán chạy nhất (Best Seller) tại hải ngoại, võ sư Mas Oyama còn viết 13 quyển sách về kỹ thuật. Sách tự truyện ghi lại cuộc đời tu luyện Karate của ông gồm 8 quyển. Luận văn võ đạo gồm 20 quyển v.v…Ông còn là giám đốc của nhà xuất bản Power Karate và giám đốc phát hành của tạp chí “Power Karate” xuất bản hang tháng tại Nhật. Cho đến cuối đời, Mas Oyama vẫn còn một công trình dang dở là tác phẩm “Karate Bách khoa từ điển” (bắt đầu viết vào năm 1980. Năm 1997 tác phẩm này đã được các môn đệ của ông biên tập và cho xuất bản với nhan đề “Karate toàn khoa – The Un-finished Encyclopedia of Karate”, tập 1 (phần lý luận) giá khoảng 1.200.000 đồng VN). Hình ảnh Trong những tự truyện của Mas Oyama thì “Sekai Kenka Ryoko” (Du hành vào thế giới chiến đấu) là tác phẩm đầu tiên. Sách do Nhà xuất bản KK Best Sleller ấn hành lần đầu năm 1968 tại Tokyo. Trải qua 10 chương, tác phẩm này là cuộc du hành của võ sư Mas Oyama đến 32 quốc gia để tìm hiểu và giao đấu với các môn võ thuật. Tuy nhiên, có hai giai đoạn quan trọng trong cuộc đời võ sư Mas Oyama được thuật lại tại chương 7: Thời gian tu luyện trên núi và sự kiện gặp gỡ một võ sư Hồng Kông. Đến đây tôi xin trích dịch toàn bộ chương 7 trong tác phẩm “Sekai Kenka Ryoto” giới thiệu đến bạn đọc STVT (Sổ tay võ thuật) (dựa theo bản in lần thứ 16, ấn hành năm 1975 của cùng nhà xuất bản; những tiểu mục cũng dựa theo bản gốc Nhật ngữ). Bài dịch này như để kỷ niệm 4 năm ngày qua đời của “Thần thủ”, và ngày này đối với dịch giả là một niềm nuối tiếc mãi mãi. Vào 4 năm trước, khi anh bạn Yamaguchi Toshio từ Nhật Bản bắn tin sang: “Mas Oyama đã mất!”. Tôi bang hoàng, tôi cảm thấy mình muộn màng quá. Tôi sẽ không còn cơ hội để thực hiện dự định: được gặp huyền thoại Mas Oyama, dù chỉ một lần trong đời. DU HÀNH VÀO THẾ GIỚI CHIẾN ĐẤU Một quyền pháp gia ở Hồng Kông Tu luyện trong núi Tôi chính thức nhập môn Karate khi 17 tuổi, nhưng từ năm 14 tuổi tôi đã làm quen với Kempo. Vì vậy, tôi đã bước đi trên con đường Võ đạo được gần 30 năm và không kể thời thơ ấu, cho đến bây giờ tôi có hai lần thực cảm rõ ràng là mình trở nên mạnh mẽ. Thực cảm đầu tiên, trải qua từ năm 1948 đến 1950, trong khoảng thời gian tu luyện tại núi Kiyosumi - huyện Chiba; vào lúc tôi thành công việc dùng Karate đánh vỡ sỏi đá. Hình ảnh Núi Kiyosumi, từ ga tàu lửa Abokominato đi khoảng 10 cây số, là nơi có thực vật rất phong phú. Trong núi sâu có chùa Kiyosumi nổi tiếng, nơi tu nghiệp của thầy Nhật Liên Thượng Nhân. Chánh điện của chùa được xây dựng vào cuối thời Edo (thời đại Giang Hộ Mạc Phủ: 1603 – 1867, ND). Trước chánh điện này có một cây sam to lớn cao chừng 50 thước tồn tại như một kỷ vật của thiên nhiên. Quyết định lên núi của tôi xảy ra trong cảnh đổ nát của Tokyo sau chiến tranh. Tôi từng đánh gục lính Mỹ khi hắn cưỡng hiếp phụ nữ Nhật Bản, hoặc nện những tên vô lại một trận nên thân trên đường phố trung tâm. Tôi lo sợ rằng tinh thần và kỹ pháp trong lúc tập luyện Karate của tôi sẽ hoang tàn như quang cảnh những đường phố, và đó là lý do xác thực nhất buộc tôi phải lên núi tu luyện. Hầu hết bạn bè đều phản đối việc này. Họ nói rằng trong thời đại của bom nguyên tử, một nắm tay sắt thép không thể thắng nổi súng đạn, cho nên sự tôi luyện Karate không cần thiết phải làm như vậy. Họ khuyên tôi hãy ở lại để làm ăn buôn bán thì tốt hơn. Tôi nói với họ, tôi chỉ là một trong số 80 triệu người của Nhật Bản, tôi sẽ trở thành một thằng ngu cũng không sao. Cố đè nén những lời phản đối xung quanh, tôi lên núi. Tôi tôn kính võ sư tiền bối Miyamoto Musashi. Đặc biệt, tôi thích bút pháp của tiên sinh Yoshikawa Eiji đã miêu tả lại cuộc đời Miyamoto. Tu luyện trên núi, hành lý quan trọng nhất đối với tôi là bộ sách (8 quyển) “Miyamoto Musashi” của tiên sinh Yoshikawa Eiji. Ngoài ra còn có kiếm, thương, súng săn. Tôi cũng vác theo bộ tạ, nồi niêu, mỗi thứ với hạn độ ít nhất rồi đặt tất cả vào căn lều nhỏ ở gần đỉnh núi. Sinh hoạt trên núi của tôi diễn ra hàng ngày từ 4 giờ sáng. Sau khi tinh thần tỉnh táo với dòng suối nhỏ gần đó, tôi chạy lúp xúp trở về lều. Tập tạ để luyện thể lực, sau đó ăn uống, đọc sách. Bữa ăn thường nhật của tôi chỉ có cơm và tương. Tập luyện Karate chính thức vào buổi chiều. Tôi quấn rơm trên thân cây và luyện tất cả các kỹ thuật: đấm, chặt, xỉa, đá… Khoảng một năm rưỡi sau, những cây cối quanh căn lều đều trở nên trơ trọi. Một năm ruỡi, dù mưa rơi gió thổi, dù mùa hạ hoặc mùa đông, tôi vẫn không nghỉ lấy một ngày. Vào ban đêm, tôi vẽ một vòng tròn trên giấy, gián lên vách lều, tôi nhìn vào đó để thống nhất thân tâm. Cảm giác đơn độc trong đêm khuya trên núi, không một bóng người đối thoại quá sức tưởng tượng của tôi. Đôi lần tôi giật mình khi nghe tiếng kêu của chim thú. Mong gần gũi với chim thú, vào ban ngày tôi dải thức ăn quanh căn lều. Những chim thú hoang dã không quen loài người lắm nhưng trong mấy tháng, chim thú ở Kiyosumi tập trung vào căn lều của tôi. Thân thiện với hoang thú không phải tôi đã giải phóng hoàn toàn cảm giác cô độc, hình ảnh phụ nữ hiện đầy trong tâm trí, tôi đã nhiều lần nghĩ đến việc hạ sơn. Tôi nghĩ ra biện pháp ngăn chặn việc xuống núi của mình bằng cách cạo rụng một bên lông mày và để cho râu tóc mọc tự do. Khi soi trên mặt nước tôi kinh ngạc với gương mặt của mình. Tôi đã thành con người kỳ dị. Như vậy, nếu tôi muốn hạ sơn cũng không thể nào thực hiện được...

Thứ Hai, 23 tháng 2, 2009

Lasan Taber - Trường THSP 1993

Vài picture Taber Yamadakai Dojo Yoko Kekomi Kenny Công Phá Tobi Yoko

20 Điều Huấn Thị củaTổ Sư G.FUNAKOSHI

Gichin Funakoshi (船越 義珍 Funakoshi Gichin) Hai mươi điều về Karate của võ sư Funakoshi 1. Đừng quên Karate bắt đầu bằng Lễ, kết thúc cũng bằng Lễ. karate wa rei ni hajimari rei ni owaru koto o wasuru na. 2. Karate không nên ra đòn trước. karate ni sen te nashi. 3. Karate phải giữ nghĩa. karate wa gi no tasuke. 4. Trước tiên phải biết mình rồi mới đến biết người. mazu jiko o shire shikoshite hoka o shire. 5. Kỹ thuật không bằng tâm thuật. gijutsu yori shinjutsu. 6. Cần để tâm thoải mái. kokoro wa hanatan koto o yosu. 7. Khinh suất tất gặp rắc rối. wazawai wa ketai ni shozu. 8. Đừng chỉ có lúc nào ở võ đường mới nghĩ về karate. dojo no mi no karate to omou na. 9. Rèn luyện karate cả đời không nghỉ. karate no shugyo wa issho dearu. 10. Biến mọi thứ thành karate, như thế sẽ nắm được sự tuyệt vời của nó. arayuru mono o karate kasase soko ni myomi ari. 11. Karate giống như nước nóng, nếu ngừng hâm nóng thì sẽ nguội lạnh. karate wa yu no gotoku taezu netsu o ataezareba moto no mizu ni kaeru. 12. Đừng nghĩ thắng, hãy nghĩ đừng bại. katsu kangae wa motsu na, makenu kangae wa hitsuyo. 13. Chuyển hóa bản thân tùy theo đối phương. teki ni yotte tenka seyo. 14. Kết quả cuộc đấu phụ thuộc vào khả năng kiểm soát. ikusa wa kyojitsu no soju ikan ni ari. 15. Hãy nghĩ chân tay người cũng là kiếm. hito no teashi o ken to omoe. 16. Hễ ra khỏi nhà là có cả triệu địch thủ. danshimon o izureba hyakuman no teki ari. 17. Người mới tập có thể còn gượng gạo, nhưng về sau phải thật tự nhiên. kamae wa s oshinsha ni, ato wa shizentai 18. Phải tập kata thật chuẩn, nhưng nhớ là thực chiến sẽ khác đi. kata wa tadashiku, jissen wa betsu mono. 19. Nhớ kiểm soát độ mạnh yếu của lực, độ linh hoạt của cơ thể, độ nhanh chậm của đòn thế. chikara no kyojaku, karada no shinshuku, waza no kankyu o wasuru na. 20. Luôn chín chắn khi dụng võ. tsune ni shinen kofu seyo.